Hiển thị các bài đăng có nhãn bai-thuoc-dan-gian. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bai-thuoc-dan-gian. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 1 tháng 8, 2015

Những tác dụng không ngờ từ cây atiso

Atiso một loại cây thuốc quý, tất cả các bộ phận của cây đều có công dụng chữa bệnh rất tốt. Bài viết dưới đây sẽ cung cấp thông tin chi tiết về tác dụng của atiso.
Hoa atisô có tác dụng bổ dưỡng, kích thích tiêu hóa, lợi gan mật, trợ tim, lợi tiểu, thường dùng nấu canh. Khi nấu chú ý không dùng nồi gang hoặc nồi nhôm vì hoa sẽ bị đắng, khó ăn.


Bộ phận của cây atisô được dùng làm rau ăn là cụm hoa bao gồm đế mang hoa, các lông tơ, và các lá bắc (có phần gốc mềm mầu trắng bao chung quanh). Trong 100g bông atisô, có chứa: 3 – 3,15 g protein, 0,1-0,3 g lipid, 11-15 g glucid (chủ yếu là inulase) và 82 g nước.

Cụm hoa được dùng trong chế độ ăn kiêng của người bệnh đái tháo nhạt vì nó chỉ chứa lượng nhỏ tinh bột, phần Carbon Hydrat gồm phần lớn là Inlin.

Ngoài ra còn có chứa các chất khoáng như mangan, phospho, sắt, các vitamin: A , B1, B2, C, cung cấp 50-75 calori. Bông atisô khi nấu chín có tác dụng bổ dưỡng tăng lực, kích thích tiêu hóa làm ngon miệng, lợi gan mật, trợ tim, lợi tiểu, chống độc, tăng tiết sữa cho sản phụ (khi hầm với chân giò).

Trong đông y, hoa atisô dùng trong các trường hợp đau gan, đau dạ dày, ăn uống không tiêu, sản phụ ít sữa, tiểu đường thống phong, thấp khớp, suy nhược cơ thể…

  • Lá atisô vị đắng, có tác dụng lợi tiểu và được dùng trong điều trị bệnh phù và thấp khớp.
  • Lá tươi hoặc khô sắc hoặc nấu thành cao chữa bệnh về Gan (gan viêm mạn, da vàng), thận viêm cấp và mạn, sưng khớp xương. Thuốc có tác dụng nhuận trường và lọc máu nhẹ đối với trẻ em.
  • Thân và rễ atisô thái mỏng, phơi khô, công dụng giống lá.
  • Atisô được dùng trị bệnh ở Châu Âu từ lâu như vị thuốc làm mát gan, nhuận trường, thông tiểu.
  • Atisô được coi là “thần dược” đối với bệnh gan vì nó làm sạch các độc tố trong gan, bởi gan làm chức năng lọc thải chất độc nên dễ bị nhiễm độc gan. Làn da của bạn cũng phụ thuộc vào chức năng gan khoẻ hay yếu, tiêu hoá tốt hay không.
Trà atiso

Vì vậy trà atisô sẽ cải thiện làn da của bạn rất nhiều. Nếu bạn uống quen trà atisô bạn sẽ thấy vị của nó khá đậm đà dễ chịu và cũng khá ngon. Atisô làm cho da mịn màng và trở nên tươi sáng hơn do nó có tác dụng làm mát gan, giải nhiệt, thải độc tố, giúp da ít bị mụn và khô ráp.

Tuy nhiên nếu bạn không thích uống trà thì có thế dùng nó như một loại nước tắm chăm sóc da. Bạn có thể dùng toàn bộ lá tươi hoặc mua loại trà đóng sẵn trong túi nhưng nếu dùng được lá tươi là tốt nhất.

Một số bài thuốc chữa bệnh từ cây chìa vôi

Dây chìa vôi là một loại cây nhỏ, mọc leo, có tua cuốn nhỏ hình sợi, ở gốc thường có củ bám vào. Cây có thân dây tròn nhẵn, có phủ phấn trắng. Do thân như chiếc que cắm vào bình vôi, nên có tên là “dây chìa vôi”. 
Lá đơn, có hình dạng thay đổi, thường xẻ thùy chân vịt, phía cuống hình tim, dài và rộng từ 6-8cm; những lá phía gốc hình mác, hầu như nguyên; lá phía trên chia 5-7 thùy, dài gần bằng nhau, mép hơi có răng cưa. Hoa màu vàng nhạt, mọc thành ngù đối diện với lá, nhưng ngắn hơn lá và có cuống. Quả nang tròn, 5-6mm, khi chín màu đen. Củ tròn, to cỡ quả trứng gà, hai đầu củ hơi nhọn, ngoài đen, trong trắng; có một số củ dính liền vào gốc cây.
bai-thuoc-chua-benh-tu-cay-chia-voi
Cây chìa vôi
Cành (dây), lá và củ của chìa vôi đều có thể sử dụng làm thuốc. Dây lá thường cắt ngắn, sao cho nóng, phơi khô; khi dùng thường ngâm nước vo gạo hoặc tẩm rượu sao. Củ có thể đào quanh năm, nhưng tốt nhất vào Thu Đông; đào về, thường ngâm nước một đêm cho mềm, rồi thái mỏng, phơi khô; khi dùng cũng thường đem ngâm nước vo gạo.

Chú ý: Cần tránh nhầm lẫn cây chìa vôi nói trên với cây chìa vôi có lá nguyên, hình tam giác mọc so le, tên khoa học là Ipomoea turpethum R. Br. thuộc họ Bìm bìm; thường dùng để chữa lỵ, bạch đới, đái đục, … Ngoài ra, chìa vôi còn có nhiều loài khác, như chìa vôi bò, chìa vôi bốn cạnh, chìa vôi lông, chìa vôi Java, … Cần chọn đúng cây chìa vôi như đã mô tả ở trên, để tránh những tác dụng ngoài ý muốn.

Theo Đông y:

– Dây chìa vôi: Có vị ngọt đắng, tính mát; có tác dụng thanh nhiệt giải độc, tán kết, hành huyết; dùng chữa xương khớp cơ gân đau nhức, viêm thận, ung nhọt lở ngứa, sưng hạch bạch huyết, rắn độc cắn, 
– Lá chìa vôi: Có vị đắng, tính lạnh, hơi độc (hữu tiểu độc); có tác dụng trừ nhọt độc, tiêu thũng; dùng chữa ung nhọt, lở ngứa, chai chân lên mắt cá, …
– Củ chìa vôi: Có vị đắng chua, tính bình; có tác dụng thông kinh, tán huyết ứ, trừ tê thấp, lợi tiểu, tiêu độc, sát trùng; thường được sử dụng với tác dụng như dây và lá.
Cách dùng cây chìa vôi để chữa trặc dây chằng, theo chúng tôi nghĩ là có cơ sở. Tuy nhiên, thuốc có phát huy tác dụng tốt hay không, còn tùy thuộc vào đặc điểm thể chất và tình trạng sức khỏe ở từng người. Vì vậy, bạn nên đưa bố bạn tới một phòng khám Đông y đáng tin cậy, để được các thầy thuốc hướng dẫn cụ thể.

Xin giới thiệu một số đơn thuốc khác có sử dụng chìa vôi:

Chữa phong thấp, cơ xương đau nhức:

(1.1) Dây chìa vôi 20g, dây đau xương 15g, cây lá lốt (nhổ liền cả rễ) 15g; sao vàng, hạ thổ, sắc nước uống trong ngày.

(1.2) Dây chìa vôi 20g, cành dâu 15g, quế chi 10g, bạch chỉ 10g; sắc nước uống ngày 1 thang.

(1.3) Dây chìa vôi 50g, đương quy 20g, xuyên khung 10g, ngưu tất 40g, cẩu tích 20g; ngâm trong 1 lít rượu ít nhất 1 tuần lễ; ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 1 chén con (khoảng 30ml).

  • Chữa bong gân, chấn thương sưng nề, tụ máu: Lá chìa vôi, lá thầu dầu tía – 2 thứ bằng nhau; giã nát, trộn với giấm hoặc rượu, sao nóng, đắp và bó vào chỗ chấn thương, ngày thay thuốc 1-2 lần.
  • Ung nhọt sưng tấy, viêm lở da: Dùng lá chìa vôi tươi, giã đắp; kết hợp với uống thuốc tiêu độc: thổ phục linh 20g, kim ngân hoa 10g, bồ công anh 10g; sắc nước uống trong ngày.
  • Mụn ổ gà ở nách: Dùng lá chìa vôi tươi, giã nát cùng với lòng trắng trứng gà; đắp lên nhọt, dùng băng cố định lại, ngày thay thuốc 1 lần.
  • Chai chân mắt cá: Lá chìa vôi tươi giã nát cùng với 1/3 râu tôm sống; đắp vào chỗ bị bệnh, dùng băng cố định, ngày thay thuốc 1 lần
  • Rắn rết cắn: Giã lá chìa vôi tươi với muối, nhai nuốt dần nước, bã đắp lên vết thương.

Thứ Sáu, 31 tháng 7, 2015

Đinh lăng cây thuốc quý tăng cường sinh lực

Cây đinh lăng thường được trồng ở các đình chùa, trước sân nhà làm cảnh bởi lẽ có dáng cây, kiểu lá đẹp xum xuê và quanh năm xanh tốt. Ngày xưa, nhân dân thường lấy lá non của cây đinh lăng để ăn gỏi cá nên còn gọi là cây gỏi cá.
cay-dinh-lang-giup-tang-cuong-sinh-luc
Cây đinh lăng
Đinh lăng có tên khoa học là Polyscias fruticosa (L…) Harms, cùng họ với cây nhân sâm (sâm Triều Tiên) nổi tiếng (họ Araliaceae). Đinh lăng là một loại cây nhỏ, sống nhiều năm, cao từ 0,8-1,5m, thân nhẵn không có gai và phân nhánh nhiều. Lá kép 3 lần xẻ lông chim, dài 20-40cm. Phiến lá kép có thùy sâu và mép có răng cưa không đều. Vò ra lá có mùi thơm. Cụm hoa là một khối hình chùy ngắn, gồm nhiều tán đơn hợp lại. Mỗi tán mang nhiều hoa nhỏ có cuống ngắn. Hoa 5 cánh trắng hình trứng, dài 2mm có 5 nhị với chỉ nhị ngắn và mảnh, bầu dưới có 2 ô có rìa trắng nhạt. Quả dẹt màu trắng bạc dài 3-4mm, dày 1mm, mang vòi tồn tại.

Khoảng 40-50 năm trở lại đây, nhiều nhà khoa học trên thế giới đã chú ý đến tác dụng tăng lực, bồi bổ cơ thể của nhiều cây cùng họ với cây nhân sâm. Một số cây trong họ này cho những vị thuốc bổ nổi tiếng và được dùng từ lâu đời trong nhân dân ta như nhân sâm, ngũ gia bì, tam thất… Đinh lăng cũng có tác dụng bổ như nhiều cây họ hàng với nó. Ngày xưa vào dịp hội hè thường tổ chức thi đấu vật, trước khi thi đấu các đô vật hay vò lá đinh lăng với nước để uống cho tăng sức dẻo dai, vật lâu không mệt.

Bộ phận dùng làm thuốc chủ yếu là rễ, lấy ở những cây trồng từ 3 năm trở lên. Người ta thường đào lấy rễ cây đinh lăng vào mùa thu hay mùa đông vì lúc này hoạt chất tập trung ở rễ và rễ mềm hơn. Rễ đào về đem rửa sạch đất cát, thái nhỏ rồi phơi, hay sấy khô. Cũng có thể tẩm thêm rượu, gừng và sao cho thơm. Ngoài rễ ra, người ta còn dùng cả thân và lá đinh lăng.

Những năm trước đây các nhà khoa học nước ta (Viện Y học quân sự) cũng có nhiều công trình nghiên cứu dùng đinh lăng làm thuốc tăng lực, tăng khả năng lao động cho người có kết quả tốt. Làm thuốc bổ gây ăn ngon miệng, ngủ tốt, tăng cân, giúp cơ thể chóng hồi phục sau khi mổ, ốm nặng.

Đinh lăng dùng khá an toàn. Liều trung bình là 0,25-0,50g một lần, ngày uống 2-3 lần, dùng dưới dạng thuốc bột (sao thơm, tán nhỏ, rây bột mịn), thuốc viên, hoặc rượu thuốc.

Ngoài ra một số nghiên cứu còn cho thấy đinh lăng có tác dụng an thần và làm tăng tác dụng của thuốc chống sốt rét. Trong nhân dân có nơi còn dùng rễ đinh lăng để chữa ho, thông tiểu, thông sữa và chữa kiết lỵ. Hoặc dùng lá đinh lăng giã nát để đắp vết thương. Song cần chú ý phân biệt cây đinh lăng lá nhỏ hay cây gỏi cá nói trên với mấy cây tương tự như: đinh lăng lá tròn, đinh lăng trổ… tác dụng tăng lực yếu, không bổ.

Thứ Sáu, 24 tháng 7, 2015

Cam thảo chữa sâu răng hiệu quả

Nghiên cứu cho thấy hai hợp chất có nhiều trong rễ cam thảo là licoricidin, licorisoflavan A có hiệu quả trong việc ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây sâu răng và viêm nha chu, có thể dẫn đến tình trạng phá hủy xương, nướu răng.
bai-thuoc-chua-sau-rang-tu-cam-thao
Bài thuốc chữa sâu răng từ cam thảo
Mặc dù chiết xuất cam thảo có thể mang lại lợi ích, nhưng các nhà nghiên cứu không khuyến cáo uống bổ sung tinh chất cam thảo.Đặc biệt, một số loại thuốc bổ sung có chứa glycyrrhizin có thể làm tăng huyết áp, giảm kali máu, giữ muối và nước, khi uống nhiều có thể gây bất lợi cho bệnh tim và cao huyết áp. Phụ nữ mang thai cũng nên tránh dùng viên bổ sung hay ăn một lượng lớn cam thảo trong thực phẩm.

Được biết, cam thảo thường được sử dụng nhiều trong các đơn thuốc đông y như vị thuốc nhằm giúp tăng cường hoạt động của các thành phần khác, làm giảm độc tính và cải thiện hương vị.

Cải thiện làn da, tăng cường hệ miễn dịch hiệu quả với cây nha đam

Những tính năng của cây lô hội (cây nha đam) đã được khắp nơi trên thế giới biết đến, từ thời văn minh cổ Ai Cập, Ba Tư, Hy Lạp, Ần Độ và Phi Châu. Đây là loại cây bụi như xương rồng, có lá tựa hình lưỡi dao thép, mọc nhiều ở vùng khí hậu ấm và khô. 
nha-dam-giup-da-ban-dep-hon
Ảnh minh họa

Chất trích từ cây lô hội hiện nay đang được sử dụng hầu như khắp nơi trên thế giới: dùng như nước trái cây, chế thuốc viên, thoa lên da và da đầu như một mỹ phẩm hay thuốc mỡ để trị bệnh. Cây lô hội đã được sử dụng cách đây 2.300 năm.

Lịch sử đã ghi lại: Aristote thuyết phục Alexandre Le Grand chinh phục Đông Phi, để có đủ cây lô hội chữa trị vết thương cho binh sĩ. Một trong những tính năng kỳ diệu của loài dược thảo này là gia tăng 35% tốc độ chữa lành vết thương. Đó là nhờ vào hoạt chất có tính thẩm thấu cao độ của cây lô hội làm giãn nở mao mạch, làm tăng lượng máu cung cấp cho vùng xung quanh vết thương, do đó làm tăng tốc sinh sản tế bào. Dù cơ chế làm giảm đau vẫn chưa được hiểu một cách rõ ràng, người ta tìm thấy chất đường có mạch dài từ cây lô hội, có nhiều mặt hiệu quả bảo vệ và kích thích hệ thống miễn nhiễm.

Cây lô hội có hiệu quả trong việc chữa trị vết nám da. Một trong những tác dụng của tia cực tím là làm giảm mức miễn nhiễm của con người. Khi dùng trực tiếp cây lô hội lên trên da, sự miễn nhiễm thông thường có thể phục hồi.

Cây lô hội có tác dụng tốt trong điều trị bệnh tiểu đường, vì có khả năng kích thích chất insulin tiết ra từ tùy tạng, do đó làm giảm lượng đường glucose đến mức chấp nhận được. Người chạy thi cũng dùng cây lô hội để trị bong gân cơ bắp, đạt kết quả giảm đau mau chóng gấp 2 lần. Bệnh nhân viêm khớp cũng được cho đắp cây lô hội, thấy có sự cải thiện và đi đến thuyên giảm. Với tính chất chống vi khuẩn và nấm, cây lô hội cũng ngăn cản phát triển của mụn giộp và nốt sởi. Nó trị được bệnh ngứa nhờ kìm hãm được phản ứng của chất histamin có trong mô động vật gây dị ứng, hoặc do côn trùng cắn, đốt.


Chất đông dính nhơm nhớp như máu của loài cây kỳ diệu này rất có ích trong việc điều trị các chứng rối loạn tiêu hóa. Khi vào trong cơ thể nó giải độc cho cơ thể và tạo ra một lớp màng ở khúc đầu ruột già (kết tràng) để ngăn chất độc trong phân không thấm trở lại cơ thể, và siêu vi khuẩn không xâm chiếm các tế bào.. Nó cũng đáp ứng những bệnh về da, bệnh vẩy nến, tăng tiết bã nhờn của da, ban đỏ, chứng viêm da, vết bầm, gầu, và tổn thương da do bị lạnh cóng. Nó làm ấm da, thường làm dịu những chỗ đau, làm lành những vết cắt và những vết trầy xước.

Thổ dân da đỏ Trung Mỹ và người Mehico vẫn dùng cây này để chữa bệnh, làm thuốc trường thọ và chất kích dục. Ở Java, chất đông của cây lô hội được vuốt lên tóc, xát vào da đầu để làm mượt tóc và kích thích tóc mọc đáng kể.

Người săn thú ở Congo (châu Phi) cũng dùng cây lô hội để làm giảm sự đổ mồ hôi, khử mùi khi đi săn. Họ chà xát chất liệu này vào cơ thể, vì thế họ ít bị phát giác khi tiến gần con mồi.Một số cuộc nghiên cứu được thực hiện để tìm hiểu xem việc uống chất lô hội có làm chậm lại quá trình lão hóa (như chất chống oxy hóa) nơi người sử dụng cây lô hội.

Những người nghiên cứu có uy tín, đề nghị dùng nguyên lá và chế biến khô lạnh nguyên lá lô hội. Chế biến bằng nhiệt sẽ làm mất chất đường saccharides đa phân tử. Nhiệt độ cao sẽ làm giảm tác nhân trị bệnh trong cây lô hội. Nên uống một lần từ 28 đến 56gr chất lô hội cô đặc mỗi ngày, để tăng cường hệ thống miễn nhiễm và cải thiện sự tiêu hóa.

Cả nguyên lá cũng có thể xay và dùng như thuốc đắp hay là ăn. Dù để nguyên hay làm đông khô, cây lô hội vẫn có vị chua chát. Khi dùng bôi ngoài, nên dùng chất nhớt tươi từ lá cây, để tác dụng giảm đau có kết quả nhanh hơn.

Thứ Năm, 16 tháng 7, 2015

Lá lốt trị bệnh phong thấp và đau xương khớp

Lá lốt là loại rau quen thuộc trong nhân dân thường dùng để ăn sống như các loại rau thơm, hoặc dùng làm rau gia vị khi nấu canh. Ngoài ra lá lốt còn là bài thuốc dân gian chữa bệnh xương khớp.

Theo kết quả nghiên cứu hiện đại, lá lốt có tác dụng kháng khuẩn, chống viêm và giảm đau khá tốt. Còn trong y học cổ truyền lá lốt có vị nồng, hơi cay, tính ấm, có công dụng ôn trung (làm ấm bụng), tán hàn (trừ lạnh), hạ khí (đưa khí đi xuống) và chỉ thống (giảm đau), thường được dùng để chữa các chứng đau nhức xương khớp khi trời lạnh, chứng ra nhiều mồ hôi ở tay chân, mụn nhọt lâu liền miệng…
la-lot-chua-duoc-benh-dau-xuong-khop
Lá lốt có tác dụng chữa được rất nhiều bệnh

Chữa đau nhức xương khớp khi trời lạnh

5-10g lá lốt phơi khô (15-30g lá tươi), sắc 2 bát nước còn ½ bát, uống trong ngày. Uống khi thuốc còn ấm, nên uống sau bữa ăn tối.

Mỗi liệu trình điều trị 10 ngày. Hoặc lá lốt và rễ các cây bưởi bung, vòi voi, cỏ xước, mỗi vị 30g, tất cả đều dùng tươi thái mỏng, sao vàng, sắc với 600ml nước, còn 200ml chia 3 lần uống trong ngày. Uống liên tục trong 7 ngày.

Trị chứng ra nhiều mồ hôi ở tay, chân

Lá lốt tươi 30g, rửa sạch, để ráo cho vào 1 lít nước đun sôi khoảng 3 phút, khi sôi cho thêm ít muối, để ấm dùng ngâm hai bàn tay, hai bàn chân thường xuyên trước khi đi ngủ tối. Thực hiện liên tục trong 5-7 ngày. Hoặc lá lốt 30g, thái nhỏ, sao vàng hạ thổ.

Sắc với 3 bát nước còn 1 bát. Chia 2 lần, uống trong ngày. Uống trong 7 ngày liền. Sau khi ngừng uống thuốc 4 đến 5 ngày lại tiếp tục uống một tuần nữa.

Chữa bệnh tổ đỉa ở bàn tay

30g lá lốt tươi, rửa sạch, giã nát, vắt lấy 1 bát nước đặc, uống trong ngày. Còn bã cho vào nồi đun với 3 bát nước, đun sôi khoảng 5 phút rồi vớt bã để riêng. Nước dùng để rửa nơi có tổ đỉa, sau đó lau khô lấy bã đắp lên, băng lại. Ngày làm 1-2 lần, liên tục trong 5-7 ngày.

Chữa mụn nhọt vỡ mủ lâu ngày không liền miệng

Lá lốt, lá chanh, lá ráy, tía tô, mỗi vị 15g. Cách làm: Trước tiên lấy lớp vỏ trong của cây chanh (bỏ vỏ ngoài) phơi khô, giã nhỏ, rây bột mịn rắc vào vết thương, sau đó các dược liệu trên rửa sạch, giã nhỏ đắp vào nơi có mụn nhọt rồi băng lại. Ngày đắp 1 lần. Đắp trong 3 ngày.

Chữa phù thũng do thận

Lá lốt 20g, cà gai leo, rễ mỏ quạ, rễ tầm gai, lá đa lông, mã đề mỗi vị 10g. Sắc với 500ml nước còn 150ml, uống trong ngày. Uống sau bữa ăn trưa khi thuốc còn ấm. Dùng trong 3-5 ngày.

Đau bụng do lạnh

Lá lốt tươi 20g, rửa sạch, đun với 300ml nước còn 100ml. Uống trong ngày khi thuốc còn ấm, nên uống trước bữa ăn tối. Dùng liên tục trong 2 ngày.

Chữa đầu gối sưng đau

Lá lốt, ngải cứu mỗi vị 20g (tất cả dùng tươi), rửa sạch, giã nát, thêm giấm chưng nóng, đắp, chườm nơi đầu gối sưng đau.

Atiso là loại cây thanh nhiệt giải độc rất tốt cho cơ thể

Atisô là loại cây thấp, cao khoảng 1-2 m, thân và lá có lông trắng như bông. Lá mọc so le, phiến khía sâu, có gai. Cụm hoa hình đầu, màu tím nhạt. Lá bắc ngoài của cụm hoa dầy và nhọn. Phần gốc nạc của lá bắc và đế hoa ăn được. Lá to, dài 1-1,2m, rộng 50cm. Mặt dưới có nhiều lông hơn mặt trên. Cây được di thực và trồng nhiều ở Đà lạt, Sa pa, Tam đảo.

Hoa atisô có tác dụng bổ dưỡng, kích thích tiêu hóa, lợi gan mật, trợ tim, lợi tiểu, thường dùng nấu canh. Khi nấu chú ý không dùng nồi gang hoặc nồi nhôm vì hoa sẽ bị đắng, khó ăn.
Bộ phận của cây atisô được dùng làm rau ăn là cụm hoa bao gồm đế mang hoa, các lông tơ, và các lá bắc (có phần gốc mềm mầu trắng bao chung quanh). Trong 100g bông atisô, có chứa: 3 – 3,15 g protein, 0,1-0,3 g lipid, 11-15 g glucid (chủ yếu là inulase) và 82 g nước.

Cụm hoa được dùng trong chế độ ăn kiêng của người bệnh đái tháo nhạt vì nó chỉ chứa lượng nhỏ tinh bột, phần Carbon Hydrat gồm phần lớn là Inlin.

Ngoài ra còn có chứa các chất khoáng như mangan, phospho, sắt, các vitamin: A , B1, B2, C, cung cấp 50-75 calori. Bông atisô khi nấu chín có tác dụng bổ dưỡng tăng lực, kích thích tiêu hóa làm ngon miệng, lợi gan mật, trợ tim, lợi tiểu, chống độc, tăng tiết sữa cho sản phụ (khi hầm với chân giò).

Trong đông y, hoa atisô dùng trong các trường hợp đau gan, đau dạ dày, ăn uống không tiêu, sản phụ ít sữa, tiểu đường thống phong, thấp khớp, suy nhược cơ thể

  • Lá atisô vị đắng, có tác dụng lợi tiểu và được dùng trong điều trị bệnh phù và thấp khớp.
  • Lá tươi hoặc khô sắc hoặc nấu thành cao chữa bệnh về Gan (gan viêm mạn, da vàng), thận viêm cấp và mạn, sưng khớp xương. Thuốc có tác dụng nhuận trường và lọc máu nhẹ đối với trẻ em.
  • Thân và rễ atisô thái mỏng, phơi khô, công dụng giống lá.
  • Atisô được dùng trị bệnh ở Châu Âu từ lâu như vị thuốc làm mát gan, nhuận trường, thông tiểu.
  • Atisô được coi là “thần dược” đối với bệnh gan vì nó làm sạch các độc tố trong gan, bởi gan làm chức năng lọc thải chất độc nên dễ bị nhiễm độc gan. Làn da của bạn cũng phụ thuộc vào chức năng gan khoẻ hay yếu, tiêu hoá tốt hay không.
Vì vậy trà atisô sẽ cải thiện làn da của bạn rất nhiều. Nếu bạn uống quen trà atisô bạn sẽ thấy vị của nó khá đậm đà dễ chịu và cũng khá ngon. Atisô làm cho da mịn màng và trở nên tươi sáng hơn do nó có tác dụng làm mát gan, giải nhiệt, thải độc tố, giúp da ít bị mụn và khô ráp.

Tuy nhiên nếu bạn không thích uống trà thì có thế dùng nó như một loại nước tắm chăm sóc da. Bạn có thể dùng toàn bộ lá tươi hoặc mua loại trà đóng sẵn trong túi nhưng nếu dùng được lá tươi là tốt nhất.

Có thể khi dùng lần đầu bạn sẽ có phản ứng chưa quen với atisô như đau bụng, da có thể hơi có biểu hiện khác nhưng sau vài ngày triệu chứng đó sẽ biến mất. Atisô là một thảo dược khá được nhiều người biết đến công dụng của nó, vậy tại sao bạn lại không tự chăm sóc làn da và giúp gan khoẻ mạnh bằng thảo dược tự nhiên và an toàn này nhỉ?

Atisô có nhiều tác dụng như vậy sao chúng ta không thử cùng nhâm nhi 1 tách trà atisô ấm trong không khí lạnh của mùa đông này hay nấu 1 bát canh hoa atisô nhỉ!

Thứ Tư, 15 tháng 7, 2015

Bài thuốc đơn giản chữa bệnh suy thận từ cây cỏ mực và đậu đen

Suy thận có thể chữa khỏi được bằng các cây thuốc trong dân gian vừa rẻ tiền lại mang lại hiệu quả, như cây cỏ mực và đỗ đen.

Cây cỏ mực và đỗ đen trị bệnh suy thận cấp

cay-co-muc-chua-benh-tri
Cây cỏ mực
Thành phần chính của bài thuốc là cây cỏ mực – cỏ nhọ nồi (có tên đông y là hạ liên thảo) và hạt đỗ đen. Hai loại thảo dược này rất tốt trong việc chữa trị chứng suy thận cấp, tức bệnh suy thận ở cấp độ mới mắc phải.
Triệu chứng bệnh suy thận thường gặp như sau: Tiểu đêm, ngủ hay gặp ác mộng, tóc bạc sớm kèm biểu hiện đau lưng mỏi gối. Nếu không chữa trị kịp thời, để bệnh chuyển sang mãn tính sẽ rất khó chữa trị.
Hạt đỗ đen
Hướng dẫn: Hái cỏ mực đem rửa sạch, thái nhỏ, phơi khô sau đó sao vàng trên lửa than. Hằng ngày dùng khoảng 30g cây cỏ mực nấu chung với 40g đỗ đen rang cháy vừa. Đun hỗn hợp cỏ mực và đỗ đen sôi rồi chắt lấy nước uống như uống nước bình thường. Mỗi thang thuốc có thể nấu nhiều lần.
Bài thuốc từ cỏ mực và đỗ đen phù hợp với mọi cơ địa, không hề lo lắng xảy ra tác dụng phụ. Uống chừng vài thang thuốc, người bệnh sẽ thấy triệu chứng tiểu đêm thưa dần rồi giảm hẳn; đồng thời ăn ngon, ngủ ngon hơn.
Bài thuốc không chỉ bổ thận mà còn giúp hệ thống cơ xương phát triển tốt. “Tây y bồi bổ xương khớp bằng cách cung cấp canxi trực tiếp. Còn Đông y bổ xương cũng thông qua việc tạo canxi nhưng thông qua bồi bổ thận”, lương y Giao giải thích.
Tuỳ thể trạng từng người, bệnh tình thuyên giảm nhanh hoặc chậm khác nhau. Tuy nhiên đặc tính chung của thuốc nam là phát huy công dụng chậm. Bởi vậy người bệnh cần kiên trì uống thuốc đều đặn.
Cũng liên quan đến chứng suy thận, ông Giao khuyên mọi người nên chú trọng bảo vệ cơ quan này bởi thận giữ vai trò cốt yếu giúp cơ thể khoẻ mạnh: “Thận hoạt động tốt, chất độc trong cơ thể sẽ được đào thải hết ra ngoài, ắt bệnh tật tiêu tan”.

Bài thuốc quý chữa bệnh Viêm Gan A hiệu quả

Viêm gan A là bệnh truyền nhiễm, hiện nay trên thế giới số lượng người bị viêm gan A ngày càng tăng. Phương pháp hiệu quả chữa các bệnh về gan là dùng các thảo dược quý từ thiên nhiên.
hong-tra-bai-thuoc-chua-viem-gan-A
Hồng trà bài thuốc quý chữa viêm gan A
Bài thuốc chữa viêm gan A này đã trải qua thử nghiệm nhiều lần ở trẻ em và cho kết quả rất khả quan, chỉ số vàng mật giảm mạnh, chức năng gan phục hồi nhanh, không có di chứng về sau, tỷ lệ chở thành mãn tính rất thấp.
Cách pha chế như sau:
- Hồng trà 5 gam, đường glucose 30 gam, đường trắng 100 gam pha vào nước sôi 100 độ C, trở thành màu đỏ thẫm, thêm vào 100 gam nước nữa tạo thành “nước đường hồng trà”.
- Uống nước này liền trong 7 ngày (1 liệu trình) trong các buổi sáng. Sau hai liệu trình là chữa khỏi bệnh viêm gan A. Nếu là người lớn dùng, tăng gấp đôi lượng thuốc.
Các triệu chứng của bệnh viêm gan A
Các triệu chứng thường bắt đầu xuất hiện từ 2 đến 6 tuần sau khi nhiễm bệnh. Nhiễm viêm gan loại A trở nên nặng hơn theo tuổi tác, và trong những trường hợp hiếm hoi, có thể gây biến chứng nghiêm trọng và suy gan.

Ở người lớn, các triệu chứng ban đầu gồm có buồn nôn (rối loạn tiêu hóa), ăn mất ngon, nôn mửa, tiêu chảy, mất năng lực, sốt, và bị đau quặn thắt ở vùng bụng (đau bụng hoặc đau hông).
Nước tiểu vàng đậm hoặc có màu nâu, phân (đi tiêu) có màu nhạt hoặc trắng, và chứng hoàng đản (mắt hoặc da bị vàng) cũng có thể xuất hiện nhưng không xảy ra trong tất cả các ca bệnh.
Một số người bị viêm gan loại A, đặc biệt là ở trẻ nhỏ, có thể không có triệu chứng gì hoặc chỉ có bệnh giống như cúm.
Những người bị nhiễm viêm gan loại A có thể bị tất cả hoặc chỉ một vài triệu chứng này.

Chữa bệnh xơ gan cổ trướng bằng gừng gió

Bệnh xơ gan cổ trướng được coi là một căn bệnh nan y bởi vì nó rất khó chữa trị. Đây là biến chứng của bệnh xơ gan, khi bệnh không được phát hiện và điều trị kịp thời. 
Bệnh nhân xơ gan cổ trướng, biểu hiện dễ nhận ra nhất chính là bụng trướng, cứng… khiến người bệnh rất khó chịu. Bên cạnh đó còn xuất hiện các triệu chứng như: sút cân nhanh, chán ăn, mệt mỏi. Người bệnh có sống được lâu hay không tùy thuộc rất lớn vào ý chí nghị lực trong việc điều trị bệnh của họ. Phòng ngừa và điều trị sớm căn bệnh này sẽ giúp cho bệnh nhân có cơ hội sống sót cao hơn. Trong dân gian có bài thuốc điều trị bệnh xơ gan cổ trướng bằng cây gừng gió rất hiệu quả. Vậy cách làm bài thuốc này như thế nào?

dieu-tri-xo-gan-bang-cay-gung-gio
Điều trị bệnh xơ gan cổ trướng bằng gừng gió
Trước tiên chúng ta cùng tìm hiểu về nguồn gốc của bệnh xơ gan cổ chướng.
Bệnh xơ gan dẫn tới hậu quả là nước và một số thành phần huyết tương thoát ra các khoang trống như: ổ bụng, màng phổi... và các mô cơ. Nước nhiều sẽ khiến bụng trương lên (được gọi là cổ trướng). Nước có nhiều trong khoang màng phổi sẽ dẫn đến việc khó thở. Nước nhiều trong mô cơ sẽ gây phù nề, nhất là các phần thấp nhất của chân. Cổ trướng là một biến chứng khá nặng của bệnh xơ gan, nếu không được điều trị kịp thời và đúng cách sẽ dẫn đến tử vong vì suy kiệt sức lực hoặc vỡ tĩnh mạch thực quản, chảy máu ồ ạt.
Nguyên nhân dẫn đến bệnh xơ gan hầu hết là do bệnh nhân nghiện rượu, một phần khác là do hậu quả của việc không được điều trị hoặc điều trị không đúng bài bản bệnh viêm gan virus. Ngoài ra, bệnh xơ gan còn có thể do bệnh nhân bị nhiễm độc hóa chất hay sử dụng thuốc tân dược quá liều.

Gừng gió chữa xơ gan cổ trướng

Thân và rễ của cây gừng gió chứa nhiều tinh dầu. Từ tinh dầu này, đã tách được zerumbone, một sesquiterpen keton đơn vòng, có tác dụng kháng khuẩn trên thực nghiệm đối với Micrococcus pyogenes var aureus và Mycobacterium tuberculosis có tác dụng trong việc hỗ trợ điều trị bệnh xơ gan.
Cách sử dụng
Thân rễ gừng gió 100g tươi, để nguyên vỏ rửa sạch, thái mỏng, cho vào ấm đất, đổ 4 bát ăn cơm nước, sắc nhỏ lửa còn 1 bát gạn lấy nước uống vào lúc 10 giờ. Nước hai cũng đổ 4 bát nước, sắc nhỏ lửa còn lại 1 bát uống vào lúc 16 giờ. Sau khi uống thuốc gừng gió chừng 1 - 2 tiếng sẽ thấy bụng sôi nhẹ và muốn đại tiện. Khi đại tiện thấy phân loãng, hôi, màu nhạt nâu như bã cà phê, thế là có tác dụng. Tuy nhiên trong suốt thời gian sử dụng thuốc cần phải ăn nhạt, hạn chế ăn các loại hoa quả chín giàu kali vì sẽ gây đầy bụng, kiêng rượu, bia, không ăn mỡ động vật, ăn ít dầu thực vật và không ăn các chất tanh.

Thứ Ba, 14 tháng 7, 2015

Tam thất thần dược quý chữa bệnh tiểu đường


nu-tam-that-chua-benh-tieu-duong
Nụ tam thất
Nụ tam thất là dạng hoa non chưa nở của cây tam thất rừng, chủ yếu được các bà con dân tộc hái ở trong rừng Sapa – Lào Cai

hoa-tam-that-chua-benh-tieu-duong
Hoa tam thất
Theo dược thư cổ, hoa tam thất vị ngọt, tính mát, có công dụng thanh nhiệt (làm mát, giải nhiệt), bình can (điều hòa chức năng của tạng can), giáng áp (hạ huyết áp) và an thần, trấn tĩnh, thường được dùng để chữa các chứng và bệnh như cao huyết áp, huyễn vựng (hoa mắt, chóng mặt trong hội chứng rối loạn tiền đình, thiểu năng tuần hoàn não…), nhĩ minh, nhĩ lung (tai ù tai, tai điếc), viêm hầu họng cấp tính…

Theo y học hiện đại hoa tam thất, với thành phần chính là hoạt chất của nhân sâm Rb1, Rb2, có vị ngọt, mát.

Công dụng của hoa và nụ tam thất

  • Chấm dứt bệnh mất ngủ mãn tính kéo dài: Chữa dứt điểm bệnh mất ngủ chỉ sau 6 ngày dùng.
  • Hổ trợ hạ cholesterol (chữa mỡ máu / chữa máu nhiễm mỡ): giảm cholesterol toàn phần, ngăn ngừa xơ vữa mạch máu, giúp tăng cường tuần hoàn máu.
  • Hổ trợ thanh nhiệt: hoa tam thất có tác dụng thanh nhiệt (làm mát, giải nhiệt).
  • Hổ trợ bình can: (điều hòa chức năng của tạng can).
  • Bổ huyết: (chống thiếu máu), cầm máu, giảm đau, tiêu ứ huyết.
  • Hổ trợ chốm viêm tấy, giảm đau, chữa trường hợp viêm động mạch vành, đau nhói vùng ngực, chấn thương sưng tấy đau nhức, viêm khớp xương đau loét dạ dày tá tràng, trước và sau phẫu thuật để chống nhiễm khuẩn và chóng lành vết thương.
  • Tốt cho hệ thần kinh: an thần, trấn tĩnh, dễ ngủ và ngủ sâu giấc (chữa các chứng mất ngủ, ngủ hay mơ và nghiến răng).
  • Hổ trợ chữa cao huyết áp: hoa tam thất có tác dụng giáng áp( hạ huyết áp).
  • Tốt đối với bệnh tim mạch, não: phòng ngừa các biến chứng tim mạch, tai biến mạch máu não, tai biến não, chữa những người kém trí nhớ, ngăn ngừa chứng lú lẫn ở người già.
  • Tăng lực: giảm căng thẳng mệt mỏi, giúp tăng lực mạnh, tăng khả năng làm việc, rất tốt cho người ăn uống kém, lao động quá sức, hay ra mồ hôi trộm.
  • Hổ trợ ngăn ngừa, phòng chống bệnh: kích thích hệ miễn dịch, ức chế vi khuẩn và siêu vi khuẩn, tăng sức đề kháng giúp cơ thể phòng chống bệnh tật về lâu dài, sử dụng thường xuyên sẽ nâng cao tuổi thọ.
  • Hổ trợ chữa các bệnh do thiếu máu lên não: do tăng cường máu lên não chữa các chứng bệnh đâu đầu, hoa mắt, chóng mặt, choáng.
  • Hoa tam thất non rất tốt cho tế bào gan, tăng cường chức năng giải độc gan, hạ men gan; điều chỉnh rối loạn chuyển hóa mỡ nên , rất tốt với người gan nhiễm mỡ.
  • Hoa tam thất giúp hạ đường huyết, giúp bệnh nhân tiểu đường mạnh khỏe và giảm các biến chứng do bệnh tiểu đường gây ra.
  • Hổ trợ làm đẹp, giảm béo: chống lão hóa, điều chỉnh rối loạn chuyển hóa mỡ nên làm giảm béo tốt, nhất là béo bụng, béo đùi; tác dụng thanh nhiệt (làm mát, giải nhiệt), giải độc gan tốt lên hỗ trợ chữa và phòng chống mụn, nám da, giúp cho làn da sáng đẹp.
  • Hổ trợ lợi sữa cho phụ nữa sau sinh

Cách dùng hoa và nụ tam thất

Hoa và nụ tam thất sau khi được hái về sấy khô tán bột và hãm uống thay trà.
Liều dùng: mỗi ngày lấy 1g – 3g hoa tam thất, hãm uống bình thường hàng ngày

Những cây thuốc chữa bệnh tiểu đường

Việc điều trị bệnh tiểu đường bằng các loại thuốc tây vừa gây cho bệnh nhân mệt mỏi lại ảnh hưởng về kinh tế, gây biến chứng các bệnh khác.Xin giới thiệu đến bạn đọc cách trị bệnh tiểu đường bằng các cây thuốc nam trong dân gian quanh ta.
Cây thuốc nam chữa bệnh tiểu đường hiệu quả
Cây thuốc nam chữa bệnh tiểu đường rất công hiệu và an toàn không gây biến chứng mà nhiều người không biết cứ lầm tưởng điều trị tây y hiệu quả quên đi các giá trị mà bài thuốc cổ truyền trong dân gian mang lại. Việc tìm các vị thuốc nam không khó vì đây là cây thuốc, cây cỏ quanh nhà, mà chúng ta rất dễ gặp như mướp đắng( khổ qua), nha đam (lô hội), húng quê… Các loại cây này giúp giảm bớt các triệu trứng do tiểu đường gây ra rất hiệu quả cho những người mắc bệnh tiểu đường.
>> Đa số người trung niên tuổi trở lên bị thoái hóa đốt sống cổ, hãy tìm hiểu thêm về căn bệnh này để có biện pháp phòng và chữa tốt nhất.
Cây húng quế chữa bệnh tiểu đường
Dưới đây là danh sách cây thuốc nam chữa bệnh tiểu đường dễ kiếm:
1. Phát tiêu (Sulfate de Soude), uống 1-2 ngày đầu, mỗi lần chừng 1 muỗng cà phê, cho xổ sạch. Rồi lấy trái đu đủ chín ương ương, não nhỏ(bỏ vỏ), đàn vào dĩa lớn, rắc đường phơi sương 1 ngày 1 đêm. Ăn tới khỏi. Rất hay.(Thuốc dân gian)
2. Trứng gà tốt, có trống, bỏ vào ly đổ dấm ngập(Được dấm thanh thì hay hơn), ngâm 1 đến 2 ngày, bóc vỏ ăn hết, ăn độ 5-6 ngày là hết bệnh. Thần hiệu.
3. Hai lá lách heo bỏ màng mỏng ngoài, rửa sạch hầm chung với nước râu bắp cho chín kỹ. Ăn cả cái lẫn nước(râu bắp 1 nắm nấu kỹ bỏ bã, lấy nước nấu lá lách). Ăn mấy ngày, đo độ đường, nếu thấy xuống bình thường thì ngưng ăn, kẻo xuống thấp quá.
4. Tầm gửi cây giâu, nhai nuốt mỗi lần 7 búp (đàn ông) hay 9 búp (đàn bà)
5. Hạt me chua, sao vàng úp xuống đất, làm 3 lần như vậy. Sắc uống.
6. Bông mã đề hái phơi trong râm cho khô, sắc uống như trà.
7. Dứa gọt bỏ lõi, bỏ lá lách heo vào trong, nấu cách thủy, xay ăn độ ¾ trái.
8. Giây mướp đắng phơi khô trong râm, (Sao vàng hạ thổ). Sắc uống
9. Hạt kê (svht) nấu ăn
10. Nấm Linh chi 1 chỉ – Tam thất 1 chỉ – Qui Đông 4 chỉ rưỡi. Nấu 15 phút, uống thay trà, khi nào thấy độ đường xuống trung bình thì thôi(Một người cho Cha Đỗ Bá Công)
11. Khế thái mỏng phơi khô(trong râm), sáng nấu một bốc, với nửa lít nước, uống cả ngày. Sau 3 tháng độ đường xuống bình thường, có ăn ngọt cũng không lên độ(một ông ở Houston cho LM Linh Uy)
12. Cải soong, củ cải, cần tây, mùi tây, tía tô, cà rốt, cả bắp, xay ép lấy nước uống.
13. Lá cây hồng ăn trái, phơi trong râm, nấu nước uống thay nước trà.
14. Gạo nếp, gạo tẻ đều 50g, nấu cháo nhừ, củ cải, gọt vỏ, xay nát, thêm gia vị bỏ vô chảo nấu sôi, ăn 2 lần trong ngày. Ăn 3 ngày.
15. Đậu xanh bỏ vỏ 100g nấu nhừ, bí đao bỏ vỏ 200g, xay nát, thêm gia vị, bỏ vô chảo nấu sôi, ăn nóng, lúc đói, 1 lần trong ngày. Ăn 3 ngày liền.
16. Dứa 1 quả (gần chín) độ 500g. Khoét núm, bỏ lõi đi, bỏ 10g phèn chua vô trong, đậy nắp lại, lấy tăm ghim chặt. Nướng trên than củi, khi nào vỏ cháy xám, nạo ruột cho bệnh nhân ăn, 1 lần trong ngày. Ăn 3 ngày liền.
17. Đu đủ gần chín, 1 gủa độ 300g, gọt vỏ, khoét núm, bỏ hạt, bỏ đường phèn 30g vô trong, ghim nắp lại, chưng chín, ăn 1 lần trong ngày. Ăn 3 ngày liền.
18. Táo đỏ 7 quả, kén tằm (còn con nhộng) 7 tổ. ninh nhừ, uống nước. Uống 2 ngày hết bệnh.
19. Cuống rau muống 60g, râu ngô 30g. Rửa sạch nấu nước uống.
20. Củ cải tươi, bỏ vỏ, 250g, nấu với cá muối khô 25g. Cách ngày ăn 1 lần.
21. Rau cần 500g. Rửa sạch xay, lọc nước đun lên uống.
22. Lá lách heo 1 bộ, rửa sạch, rửa sạch thái nấu chín(không bỏ muối), đập vào 3 quả trứng gà (có trống) với 60g củ cải cúc, nấu sôi, ăn cả nước và cái, ngày 1 lần.
23. Lá lách heo 1 bộ, hạt bo bo 60g. Nấu ăn 1 lần trong ngày.
24. Đậu đũa luộc ăn lạt.
25. Vỏ con sam(đốt cháy) 5 chỉ. Cây vú sữa (Sao vàng) 5 chỉ. Nấu uống hằng ngày thay trà. Rất công hiệu. ban Y Tế Cần Thơ cung cấp.
26. Hoài Sơn – Phòng đảng sâm – Chích cam thảo – Chích huỳnh kỳ – Sanh bạch truật – Cát Căn; đều 5 chỉ. Sắc 6 chén còn 3 chén, uống 3 lần. (Đỗ Phong Thuần)
27. Hoài sơn 5 chỉ -Phong đảng sâm 5 chỉ – Chích huỳnh kỳ 4 chỉ – bạch truật 4 chỉ – thăng ma 3 chỉ – Cát căn (nướng) 3 chỉ- Vỏ biển đậu 3 chỉ – Chích cam thảo 3 chỉ. Sắc 8 chén còn 3 chén, uống 3 lần (Đỗ P.Thuần)
28. Gà giò bằng 2 vốc tay làm sạch, chanh thái mỏng phủ kín gà. Chưng cách thủy khi chín ăn cả gà và chanh (Ô. Hiệp W.Falls)
29. Nước thân cây chuối tiêu
Mỗi buổi sáng lấy dao chặt ngang cây chuối, khoét bỏ 1 khúc lõi trong thân, dài khoảng 10cm, dùng 1 bao ny lông sạch bịt chỗ mới cắt cho khỏi bụi. Nửa giờ sau, hút nước chỗ lõi cây chuối chảy ra, được độ trên nửa chén. Uống hết 1 lần.

Bốn bài thuốc chữa bệnh trĩ hiệu quả

Dân gian có câu thập nhân cửu trĩ cho thấy mức độ phổ biến của căn bệnh này. Dưới đây là một số cách chữa bệnh trĩ bằng thuốc nam.

Bài thuốc 1

Lấy 120g vỏ cây hồng, phơi khô sấy chín, giã nhỏ, uống với nước cơm, mỗi ngày uống 1 lần, uống liền trong 2 tuần sẽ chữa được trĩ chảy máu

Bài thuốc 2

Khi đi tiểu tiện thấy máu tươi chảy ra như cắt tiết gà, nếu không chữa gấp vừa mất máu, mất sức, bệnh càng nặng thêm. Cần lấy ngay rau diếp cá tươi ăn sống hàng ngày, đồng thời rửa sạch diếp cá tươi, giã nát đắp vào chỗ trĩ.

Bài thuốc 3

Khi bị trĩ thấy đau nhức hãy dùng rau diếp cá nấu nước, lúc nước sôi già thì đổ ra chậu để xông, khi nước còn ấm, ngâm và rửa kỹ hậu môn. Lại giã diếp cá tươi đắp vào chỗ đau

Bài thuốc 4

Hương nhu 500g nấu sôi, xông, ngâm và rửa kỹ thường xuyên.

Một số cây thuốc tốt cho gan và người bệnh viêm gan

Dân gian có nhiều cây thuốc hay chữa bệnh gan như atiso, cây chó đẻ răng cưa, nhân trần ….Các cây thuốc này có thể dùng để hãm nước uống hàng ngày có tác dụng bảo vệ, hỗ trợ điều trị viêm gan và tăng cường chức năng gan.
Dưới đây là một số thông tin về các cây thuốc này, mời bạn đọc cùng quan tâm theo dõi.

1.Cây Atisô bảo vệ gan khỏe mạnh

bai-thuoc-hay-chua-benh-gan
(a ti sô) 
Cây Atiso tên khoa học là Cynara scolymus. Atisô tính mát, vị đắng nhạt, hương thơm dịu; người ta thường dùng hoa và cụm lá Atiso làm rau ăn. Nấu canh hoặc hầm với xương lợn hay nấu với gan lợn, ăn rất bổ. Với bệnh nhân đái tháo đường, atiso có tác dụng hạ lượng đường trong máu, ngoài ra còn có tác dụng nhuận gan, nhuận tràng, lợi tiểu, tăng tiết mật, thông mật, hạ cholesterol máu, bảo vệ gan chống độc.
Atisô thường được dùng để giải độc cho cơ thể, nhất là những người hút thuốc, uống rượu, bia nhiều, làm việc trong môi trường ô nhiễm, người bị tăng mỡ máu…Đông y còn kết hợp atisô với nhiều vị thuốc để chữa bệnh viêm gan mãn tính, xơ gan cổ trướng. Thảo dược này còn rất hiệu quả trong chữa thân nhiệt nóng, da mặt nổi mụn nhọt, bọc mủ, mẩn ngứa.
Người ta có thể dùng atiso dạng tươi hoặc khô hâm uống hay nấu thành cao lỏng, cao mềm; còn có dạng chiết tươi bằng cồn hoặc làm cồn thuốc. Hiện nay có rất nhiều thảo dược được điều chế từ atiso nhưng chúng ta không nên lạm dụng, tham khảo ý kiến bác sỹ trước về liều lượng sử dụng.

2. Cây diệp hạ châu hay còn gọi là cây chó đẻ răng cưa tốt cho người bệnh viêm gan

bai-thuoc-chua-viem-gan
Diệp hạ châu lợi tiểu tiêu độc
Diệp hạ châu có tên khoa học là Phyllantus urinaria L., họ thầu dầu Euphorbiaceae. Tên dân gian là cây chó đẻ vì đây là loại cây chó sau khi đẻ rất thích ăn. Diệp hạ châu còn được gọi là trân châu thảo, diệp hạ châu đắng, diệp hòe thái, lão nha châu…
Diệp hạ châu có vị ngọt hơi đắng, tính mát, có tác dụng lợi tiểu, tiêu độc, sát trùng, tán ứ, thông huyết, điều kinh, thanh can, sáng mắt, làm se và hạ nhiệt.

3. Cây chó đẻ răng cưa

Người ta cũng đã nhận thấy tác dụng diệt khuẩn và diệt nấm rõ rệt của acid phenolic và flavonoid trong Chó đẻ răng cưa, Coderacin dùng chế thuốc nhỏ mắt và thuốc mỡ tra mắt, nó có khả năng diệt một số vi khuẩn, nấm và mốc, chủ yếu là các mầm gây bệnh đối với mắt.
cay-thuoc-quy-chua-benh-gan
cây chó đẻ giảm nguy cơ nhiễm độc gan
Khi dùng cây chó đẻ răng cưa làm bài thuốc, người ta thường nhổ cả cây, rửa sạch phơi nắng gần khô rồi đem phơi trong râm. Loại cây này có vị hơi đắng ngọt, tính mát. Người ta sử dụng toàn bộ cây để làm thuốc, có tác dụng giảm đau, chữa viêm gan, thông tiểu, có nơi còn sử dụng chữa bệnh viêm gan virus B, trị trẻ con cam tích, phù thủng do viêm thận, nhiễm trùng đường tiểu, sỏi bàng quang, viêm ruột, tiêu chảy, họng sưng đau. Ngoài ra, diệp hạ châu còn có tác dụng bảo vệ gan cho những người uống rượu bia nhiều, làm giảm nguy cơ nhiễm độc gan.
Một cách sử dụng đơn giản nhất là dùng diệp hạ châu cưa phơi khô, sao vàng rồi đun lấy nước uống hằng ngày. Tuy nhiên, không nên sử dụng quá nhiều trong ngày.

4. Nhân trần thanh nhiệt

Nhân trần là một thức uống phổ biến vào mùa hè nóng nực của nhiều người. Nhân trần so vị hơi đắng, tính hơi hàn có công dụng thanh nhiệt, lợi thấp, lợi mật, được dùng để chữa các chứng hoàng đản, tiểu tiện bất lợi viêm loét da do phong thấp. Để trị hoàng đản dân gian dùng nhân trần 15g sắc uống. Để chữa viêm da lở loét, dùng nhân trần sắc đặc, lấy nước ngâm rửa chỗ tổn thương. Nếu mắc chứng da viêm nề và ngứa nhiều, dùng nhân trần 30 g, lá sen 15 g sấy khô, tán bột, mỗi ngày uống 3 g với nước lọc có pha chút mật ong.
bai-thuoc-dan-gian-chua-benh-gan
Nhân trần thanh nhiệt
Nhiều nghiên cứu hiện đại cho thấy, nhân trần có tác dụng làm tăng tiết và thúc đẩy quá trình bài xuất dịch mật, bảo vệ tế bào gan, ngăn ngừa tình trạng gan nhiễm mỡ, làm hạ huyết áp, thúc đẩy tuần hoàn, giải nhiệt, giảm đau và chống viêm. Nó có khả năng ức chế một số vi khuẩn như tụ cầu vàng, thương hàn, phó thương hàn, mủ xanh, e.coli, lỵ, song cầu khuẩn gây viêm não, viêm phổi và một số loại nấm. Nhân trần giúp cải thiện công năng miễn dịch và ức chế sự tăng sinh của tế bào ung thư. 
Trên lâm sàng, nhân trần đã được sử dụng để điều trị các bệnh: viêm gan truyền nhiễm cấp tính thể vàng da, vàng da tán huyết do thương hàn ở trẻ sơ sinh, giun chui ống mật, rối loạn lipid máu, thiểu năng mạch vành, eczema dai dẳng ở trẻ em, viêm loét miệng, nấm da…
Kết hợp với một số vị thuốc khác, nhân trần được đánh giá là cây thuốc tốt cho bệnh nhân bị bệnh gan.

Thứ Năm, 9 tháng 7, 2015

Húng lủi - rau quý trong vườn nhà

Tác dụng của húng lủi là làm dịu đi những cồn cào khó chịu ở dạ dày. Cho dù là chỉ vài lá bỏ vào tách trà nóng hoặc vài cọng đủ làm chén cơm thêm phần hương vị thì húng lủi đều có khả năng phát huy tối đa công dụng. 
Một loại hương liệu có trong lá húng lủi sẽ kích hoạt tuyến nước bọt cũng như các tuyến khác tham gia quá trình tiêu hóa, làm cho các tuyến này tiết ra những men (enzyme) tiêu hóa.

Đâu chỉ có thế, húng lủi còn giúp cải thiện hội chứng kích ứng ruột, làm chậm sự tăng sinh của vi khuẩn và các loại nấm gây bệnh. Húng lủi cũng có công trong điều trị bệnh suyễn, các bệnh về hô hấp do khả năng làm “nguội” và làm dịu cổ họng, mũi, các ống hô hấp...
Ảnh minh họa
Húng lủi giúp cải thiện hội chứng kích ứng ruột, làm chậm sự tăng sinh của vi khuẩn và các loại nấm gây bệnh 

Những nghiên cứu gần đây cũng cho thấy húng lủi có khả năng phòng chống ung thư do trong húng lủi có chứa một loại hợp chất gọi là perillyl, được cho có khả năng “giải tán” sự tụ tập của các tế bào gây ung thư ruột, phổi, da... Nước ép húng lủi là loại nước vệ sinh da mặt tuyệt hảo. Tinh dầu húng lủi còn có đặc tính chống lở chốc, đặc tính này còn được áp dụng chữa trị những vết cắn của côn trùng như muỗi, ong... Húng lủi còn có một đặc tính “ăn tiền” khác là giúp vệ sinh răng miệng, làm hơi thở thơm tho do có khả năng ức chế sự tăng trưởng của các vi khuẩn sống bám ở răng, lưỡi...

Hiện nay, người ta dùng húng lủi trong nhiều lĩnh vực khác nhau như thực phẩm (kem, rượu, bia...), mỹ phẩm, dược phẩm. Ngành công nghiệp thuốc lá cũng không thể không “ăn theo”. Thế nên có một điều quan trọng cần lưu ý: Hóa chất nổi tiếng tồn tại trong húng lủi là menthol, các nhà sản xuất thuốc lá đã đưa menthol vào thuốc lá để đem lại vị the và hương thơm. Đã có những khuyến cáo rằng phụ nữ hút nhiều thuốc lá có nhiều menthol càng khó có khả năng sinh nở, còn đàn ông hút nhiều sẽ dễ bị bất lực. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu vẫn không biết chắc rằng menthol có phải là “đồng phạm” với khói thuốc hay không.

Những tác dụng quý giá từ rau mùi

Rau mùi chứa hàm lượng các chất dinh dưỡng thực vật và các chất chống oxy hóa cao. Lá và hạt rau mùi có chứa hàm lượng tinh dầu quan trọng chống nhiễm khuẩn, giảm đau, kích thích ham muốn, cải thiện hệ tiêu hóa, thuốc trị nấm và là một chất kích thích tự nhiên. 
Ngoài ra, rau mùi cũng chứa nguồn vitamin A, vitamin C, vitamin K, vitamin B và các khoáng chất quan trọng cho cơ thể như canxi, kali, sắt, mangan và natri.
bai-thuoc-quy-tu-rau-mui
Rau mùi chứa nhiều nguồn vitamin bổ dưỡng
Kháng sinh
Một hợp chất kháng sinh có tên dodecenal được tìm thấy trong rau mùi đã được chứng minh là có hiệu quả gấp đôi những loại thuốc kháng sinh được sử dụng trong việc tiêu diệt các vi khuẩn gây hại trong thực phẩm như salmonella.

Chống ung thư
Các chất chống oxy hóa trong rau mùi bao gồm beta carotene, vitamin C, vitamin E, ferulic, axit caffeic, kaempferol và quercetin được chứng minh là những chất chống oxy hóa có tác dụng làm giảm nguy cơ mất cân bằng oxy hóa trong các tế bào - nguyên nhân gây bệnh ung thư.

Đặc tính chống khuẩn
Rau mùi có chứa tinh dầu dễ bay hơi có tính chất kháng khuẩn. Vì thế rau mùi là loại thảo dược được sử dụng trong việc điều trị các bệnh nhiễm trùng do nấm, vi khuẩn hoặc nấm men.

Đặc tính chống viêm
Hàm lượng axit béo omega - 3 và omega - 6 được tìm thấy trong rau mùi khá cáo. Axit béo omega - 3 giống như tòa nhà cao tầng được xây dựng để bảo vệ cơ thể chống lại các bệnh viêm và ngoài ra còn nhiều lợi ích sức khỏe khác.

Kiểm soát lượng đường trong máu
Một nghiên cứu được tiến hành trên một con chuột đã khẳng định rằng rau mùi có khả năng chống lại bệnh tiểu đường và kiểm soát lượng đường trong máu. Rau mùi có khả năng kích thích cơ thể tiết ra insulin giúp làm giảm lượng đường trong máu. Sử dụng nước ép rau mùi thường xuyên sẽ đạt được hiệu quả bất ngờ.

Xương khỏe mạnh
Canxi là một dưỡng chất thiết yếu và quan trọng cho quá trình hình thành và duy trì xương khỏe mạnh. Rau mùi được xem là một nguồn cung cấp canxi tuyệt vời, vì thế rau mùi có nhiều lợi ích trong việc duy trị xương khỏe mạnh.

Có khả năng giảm hàm lượng cholesterol
Việc tiêu thụ rau mùi hàng ngày có thể làm giảm được số lượng lớn các tế bào bị hư hỏng trong màng tế bào. Các nghiên cứu đã chứng minh rằng rau mùi còn có khả năng làm giảm lượng cholesterol xấu và làm tăng những cholesterol có lợi cho cơ thể.

Sáng mắt
Với hàm lượng các chất chống oxy hóa và hàm lượng beta - carotene cao, rau mùi được xem là thảo dược giúp bạn giảm các bệnh liên quan đến mắt và cải thiện thị lực tốt nhất. Không chỉ thế, rau mùi còn có công dụng làm giảm nguy cơ mắc các bệnh như thoái hóa điểm vàng và đục thủy tinh thể.

Loại bỏ kim loại nặng trong cơ thể
Rau mùi là một trong số ít những loại thảo dược được sử dụng để loại bỏ lượng kim loại nặng, khử độc thủy ngân, nhôm và những chất hại khác. Bạn chỉ cần trộn nước ép rau mùi với bột Chlorella (một loại tảo đơn bào) và sử dụng hàng ngày. Hỗn hợp nước uống này bạn có thể bảo quản trong tủ lạnh.

Tăng cường hệ miễn dịch
Hàm lượng các chất chống oxy hóa, các chất dinh dưỡng thực vật cao, cộng thêm khoáng chất và vitamin có trong rau mùi giúp tăng cường hệ miễn dịch của cơ thể chống lại các bệnh nhiễm trùng.

Mất ngủ
Với hàm lượng các dưỡng chất từ thực vật và giá trị dinh dưỡng của rau mùi giúp cân bằng lại các hóa chất bên trong, có tác dụng làm dịu các dây thần kinh giúp bạn dễ ngủ hơn và ngủ sâu giấc hơn.

Sỏi thận
Rau mùi có tác dụng lợi tiểu và giải độc nên có tác dụng giúp giảm nguy cơ bị sỏi thận.

Thứ Tư, 8 tháng 7, 2015

Nghệ tươi chữa ho, khoai lang chữa bệnh tiểu đường

Dưới đây là một số công thức chữa bệnh giúp bạn và người thân có thể áp dụng chữa trị trong cuộc sống hàng ngày nhé!

Để chữa ho, bạn có thể dùng nghệ tươi để điều trị. Lấy củ nghệ tươi gọt vỏ, cắt nhiều lát mỏng. Chanh tươi gọt vỏ, cắt lát mỏng, lượng bằng với nghệ (chừng 6 -7 lát). Củ gừng tươi cũng rửa sạch, cắt lát mỏng nhưng lượng bằng một nửa nghệ.
bai-thuoc-dan-gian-chua-ho
Nghệ tươi chữa bệnh ho
Ba nguyên liệu ấy cho vào tô hay chén cùng một ít nước chín, và hai muỗng mật ong (hoặc hai muỗng đường phèn) rồi đem chưng cách thủy, dùng nước chưng này để chữa ho rất hay. Nếu dùng luôn cả xác thì càng tốt

Khoai lang là loại rau dễ trồng, có ở khắp các vùng quê. Loại rau này tuy dân dã nhưng ăn rất ngon và bùi. Với nhiều lợi ích: mát, bổ, tính bình, vị ngọt, không độc, ích khí lực, kiện tỳ vị, bổ thận âm, dùng chữa tỳ hư, kém ăn, thận âm bất túc nên nhiều người gọi rau khoai lang là “sâm nam”.


Rau lang tươi luộc chín có tác dụng nhuận tràng rất hay. Người bệnh tiểu đường thường xuyên dùng món rau lang luộc cũng tốt vì chúng cũng có đặc tính giảm đường huyết.

Cần tây rất tốt cho sức khỏe
Đông y cho rằng: Cần tây tính mát, vị ngọt, tác dụng thanh nhiệt, lợi thủy, trị đàm nhiều đầy ngực, lao hạch,… có thể phòng và chống được nhiều loại bệnh. Trong cần tây chứa nhiều axit amin tự do, tinh dầu, nhiều loại vitamin, giúp tăng cảm giác thèm ăn, xúc tiến tuần hoàn máu và bổ não.

Loại rau này cũng chứa nhiều vi lượng muối vô cơ, cung cấp khoáng chất sắt, kẽm… do vậy mà thích hợp dùng cho bệnh nhân tai biến mạch máu não.

Dầu oliu phòng ngừa hiệu quả bệnh tim mạch

Nghiên cứu của các nhà khoa học Italia chỉ ra rằng, những phụ nữ ăn nhiều dầu ôliu và rau xanh giảm được nguy cơ các bệnh về tim mạch. Nghiên cứu này được đăng tải trên tạp chí về dinh dưỡng của Mỹ.

bai-thuoc-hay-chua-benh-tim-mach
Dầu oliu phòng ngừa bệnh tim mạch
Nghiên cứu cho thấy, những phụ nữ ăn ít nhất 3 thìa dầu ôliu mỗi ngày giảm được 40% nguy cơ hình thành bệnh tim mạch. Theo các nhà khoa học, rau xanh cũng có tác dụng và hiệu quả tương tự như dầu ôliu.

Nhiều nghiên cứu trước đây cũng đã chứng tỏ được rằng, chế độ ăn truyền thống ở vùng Địa Trung Hải giàu rau xanh, dầu ôliu và lạc giúp con người phòng chống các bệnh về tim mạch.

Theo các nhà khoa học thuộc Viện nghiên cứu và phòng chống bệnh ung thư ở Florence, các loại thức ăn có nguồn gốc thực vật, đặc biệt các các loại rau xanh có chứa nhiều vi chất dinh dưỡng như folate, vitamin chống oxi hóa và kali có tác dụng đặc biệt trong ngăn ngừa hình thành các bệnh về tim mạch.

Thanh nhiệt, giải độc từ cây nhọ nồi

Cây nhọ nồi là loại cây nhỏ, mọc hoang ở nhiều nơi, dân gian thường dùng để làm thuốc cầm máu. Theo Ðông y, nhọ nồi vị chua ngọt, tính mát, có tác dụng bổ thận, mạnh xương, đen tóc, mát gan, giải độc, chống viêm và chống dị ứng. 
Nhọ nồi được dùng để điều trị sốt xuất huyết, sốt phát ban, bệnh sởi, Rubella, trĩ, viêm lợi, loét lưỡi, viêm mũi dị ứng, viêm họng, rong huyết, viêm gan… Dùng tươi hoặc phơi khô dưới dạng thuốc sắc, có thể giã tươi lấy nước uống.

Một số bài thuốc từ cây nhọ nồi

  • Sốt xuất huyết: nhọ nồi, cỏ sữa, tang diệp, bạch mao căn mỗi thứ một nắm nấu nước uống trong ngày. Hoặc cỏ mực, râu ngô, cỏ mần trầu, mã đề thảo, rau má mỗi thứ một nắm nấu nước uống trong ngày.
  • Can khí uất kết: Biểu hiện đau tức hạ sườn phải, da vàng tiểu đỏ, đại tiện bí kết, tinh thần bứt rứt, ăn ít, giấc ngủ không yên. Dùng bài: nhọ nồi 20g, hạ liên châu 16g, củ đợi 10g, rau má 20g, mã đề thảo 16g, lá đinh lăng 20g, cỏ mần trầu 20g. Sắc uống ngày 1 thang.
  • Viêm lợi, chảy máu chân răng: cỏ mực 20g, ngân hoa 10g, chi tử 10g, hoàng liên 10g, bạch mao căn 20g, tang diệp 20g, cam thảo đất 16g. Sắc uống ngày 1 thang.
  • Loét lưỡi, viêm miệng:nhọ nồi 20g, rau má 20g, hoàng liên 10g, tang diệp 16g, ngân hoa 10g, liên kiều 10g, lá đinh lăng 16g, sài hồ 10g, cam thảo 12g. Sắc uống ngày 1 thang. Công dụng: thanh tâm hỏa, chống viêm, tiêu độc.
  • Viêm gan virut: nhọ nồi 24g, hạ liên châu 16g, nhân trần 12g, đan bì 10g, bạch thược 12g, lá đinh lăng 16g, chi tử 10g, chỉ xác 10g, đương quy 12g, bạch truật 12g, ngũ gia bì 12g, cam thảo đất 16g. Sắc uống ngày 1 thang. Dùng từ 10 – 15 ngày liền. Công dụng: chống viêm, lợi gan mật, lợi tiểu, phục hồi chức năng gan.
  • Bệnh trĩ: nhọ nồi (sao đen) 20g, phòng sâm 12g, hoàng kỳ 12g, đương quy 12g, bạch truật (sao hoàng thổ) 16g, thăng ma 12g, hoa hòe (sao đen) 12g, ngân hoa 12g. Sắc uống ngày 1 thang. Cần uống 10 ngày liên tục. Công dụng: chống viêm, chỉ huyết, thăng đề.
  • Viêm mũi xuất tiết: nhọ nồi 20g, thương nhĩ 10g, cây cứt lợn 20g, trần bì 10g, cát cánh 16g, phòng sâm 16g, kinh giới 12g, sinh khương 6g, cam thảo 10g. Sắc uống ngày 1 thang.
  • Bệnh zona: nhọ nồi 20g, kinh giới 20g, thổ phục linh 20g, nam tục đoạn 16g, nam hoàng bá 16g, củ đinh lăng 12g, cam thảo đất 16g, hạ khô thảo 12g, ngân hoa 10g, kê huyết đằng 16g, huyền sâm 10g. Sắc uống ngày 1 thang. Dùng 3 – 4 ngày là bệnh lui.

Các cây thuốc quý chữa bệnh quanh ta

Các cây thuốc quanh khu vườn nhà hoặc mọc ven đường thường bị bỏ qua, thực tế thì chúng lại có công dụng hữu ích chữa được nhiều bệnh nan y, các bạn đọc cùng tìm hiểu.

Cây Bách bệnh

Cây bách bệnh 
Cây thuốc quý Bách bệnh (Cây Mật nhân, Mật nhơn, Bá bệnh) cao khoảng 15 m. Lá kép 13 – 41 lá kèm, dài khoảng 20-40 cm. Hoa đơn tính khác gốc, mỗi hoa có 5-6 cánh rất nhỏ. Quả non màu xanh, khi chín màu đỏ sẫm. Quả 1 hạt. Hạt có nhiều lông ngắn trên mặt.

Công dụng: Kích thích cơ thể tiết testosteron, tăng cường sinh lý ở nam, điều trị rối loạn chức năng tình dục, chống sốt rét.

Cây Giảo Cổ Lam

bai-thuoc-dan-gian-chua-benh
Cây giảo cổ lam chống lão hóa,giảm căng thẳng mệt mỏi
Cây thuốc quý Giảo Cổ Lam  có thân mảnh, leo nhờ tua cuốn đơn ở nách lá. Lá kép hình chân vịt. Cụm hoa hình chuỳ mang nhiều hoa nhỏ màu trắng, các cánh hoa rời nhau xoè hình sao, bao phấn dính thành đĩa, bầu có 3 vòi nhuỵ. Quả khô hình cầu, đường kính 5 – 9 mm, khi chín màu đen.

Công dụng:
Chống lão hóa, giảm căng thẳng, mệt mỏi.
Chống huyết khối, hạ mỡ máu, tăng cường lưu thông máu.
Hạ đường huyết, tác dụng trên bệnh tiểu đường type 2.
Chống viêm gan. Tăng cường miễn dịch, ngăn ngừa hình thành và phát triển khối u.

Cây mật gấu

cay-mat-gau-chua-benh-gan
Cây mật gấu chữa bệnh gan
Cây mật gấu hay còn gọi là (Hoàng liên ô rô, Mã hồ ) có thể cao 4 – 6m. Lá kép hình lông chim lẻ, mọc so le, dài 20 – 40 cm, mang 11 – 25 lá chét cứng không cuống, hình trái xoan hẹp, dài 6 – 10cm, rộng 2 – 4,5cm, gốc tròn, đầu lá nhọn như gai, mép có răng nhọn; gân chính 3. Lá kèm nhọn như hai gai nhỏ.

Công dụng: Cây mật gấu có tác dụng rất tốt trong việc điều trị các triệu chứng về bệnh rối loạn tiêu hoá, đường ruột, đau nhức xương khớp, tê thấp. Tác dụng mát gan, phòng và chữa sỏi mật, giảm đau lưng và thấp khớp, tăng cường sức khỏe… Đặc biệt sản phẩm có tác dụng tiêu mỡ, viêm đại tràng, giã rượu, dùng lâu dài có tác dụng chữa bệnh béo phì và bệnh Gút – những căn bệnh rất phổ biến trong đời sống hiện đại.

Cây Cà Gai Leo

bai-thuoc-dan-gian-chua-benh-gan

Cây thuốc quý Cà Gai Leo (Cà vạnh, Cà cườm, Cà quánh, Cà quýnh ) đã được nghiên cứu và sử dụng trong nhiều đề tài nghiên cứu chứng minh về tính chống viêm và ức chế sự phát triển của xơ gan, phòng chống viêm gan B

Công dụng: Cà gai leo có tác dụng bảo vệ tế bào Gan mạnh đến nỗi khi uống rượu chỉ cần chà răng hoặc nhấm rễ Cà gai leo thì sẽ tránh được say, nếu bị say thì uống nước sắc của rễ hoặc thân lá sẽ nhanh chóng tỉnh rượu, ngoài ra còn dùng chữa rắn cắn, đau nhức xương khớp.